Ziendan TiengViet TRANGNHÀ VNY2K
TRANGCHỦ   Ghidanh   Ðăngnhập   Danhsách thànhviên
Xem thưriêng   Banquảntrị   Tìmkiếm   Thắcmắc chung

Ziendan.net
VNY2K - Diễnđàn TiếngViệt
Sửađổi cáchviết chữViệt
Tánthành cảicách
Phảnđối cảicách

Từnguyên tiếngViệt
Nguồngốc Hán
Nguồngốc NamÁ -- Mon-Khmer
Từ ngoạinhập Pháp-Anh
Tínhđaâmtiết của tiếngViệt

Thưgiãn - giảitrí - tánngẫu
Chuyệncấm đànbà
Nghềchơi cũng lắm côngphu

Sángtác - dịchthuật
Vănhọc nghệthuật
Dịchthuật - songngữ
Tạpký thuyềnnhân
Nhậtký đểđời
Lưubút chuyện ngàyxưa

Dulịch Việtnam và thếgiớI
Quêhương yêudấu
Thếgiới muônmàu

Thếgiới siêuhình
Tửvi - Tướngsố
Phongthủy - kinhdịch
Mêtín dịđoan

Tảnmạn
Anything goes...
Vấnnạn của chúngta....
Gópý cảitiến diễnđàn
Kếtnối liênmạng
Thắcmắc chung về diễnđàn
Email đángnhớ...
Thư gởi bạn phươngxa

Tìnhyêu và cuộcsống
Tìnhyêu
Cuộcsống

Raovặt
Muabán - traođổi - nhắntin
Tìmviệc - Cầnngười

Tintức
Tin... đángkể
Thôngtư liênmạng

Nguồngốc dânViệt
NgườiViệt từđâu tới?
Giaphả họ Việt

Phêbình vny2k.com
Ýkiến bạnđọc

Sáchbáo - phimnhạc
Phimảnh về Việtnam
Sáchbáo mới
Phimbộ Trungquốc
Nhạc từ... chânkhông

Làmgiàu tiếngViệt
Sángtạo từ mới
Phiêndịch
Cảithiện từvựng

Họcthuật - nghiêncứu
Họcthuật vănhoá
Nghiêncứu khảoluận

Tuổitrẻ Việtnam
Tuổitrẻ lênđàng
Họcđường và sáchvở
Giờrachơi hay giờ khổhạnh?
Hìnhnhư là tìnhyêu...



Thốngkê
· 48 đềtài trong 16 đềmục của diễnđàn
· 1122 thànhviên đăngký. Xin chàomừng thànhviến mới nhocphahoai.
Số khách đang viếngthăm: 3
Thốngkê nầy dựatrên dữkiện ghinhận 15 phút trướcđây.

Họ đang làmgì??

Thànhviên mới
· nhocphahoai
  Jul.19.2010, 22:31 pm
· hotrienvan
  Jun.30.2010, 06:44 am
· tannguyen
  May.22.2010, 16:51 pm
· doctiengvietnhutiengkhome
  May.12.2010, 00:01 am
· windsir
  Apr.2.2010, 03:55 am
Danhsách thànhviên

Banquảntrị diễnđàn
Quảntrịviên
admin

Ðiềuhợpviên
admin
abcd
dchph


Ziendan.com là nơi thảoluận về những vấnđề trong tiếngViệt!
Tácgiả: dchph gởiđăng vàongày Jul.29.2010

» Xinmời đọc
What Makes Vietnamese So Chinese?
An Introduction to Sinitic-Vietnamese Studies

ABBREVIATIONS AND GLOSSARY

I) INTRODUCTION

  1. Foreword
  2. The background
  3. Convention
    1. The unconventional convention:
    2. Symbols and conventions:
  4. A revised course in the adaption of the reconstructed ancient sound values
  5. Vietnamese and Chinese commonalities
    1. Modern dialectal similarities
    2. The role of Mandarin

II) THE CHINESE CONNECTION

  1. Hypothesis of Chinese origin of Vietnamese
  2. Core matter of Vietnamese etymology
  3. Chinese and the basic vocabulary stock
  4. A new dissyllabic sound change approach to be explored

III) THE MON-KHMER ASSOCIATION

  1. The underlined stratum of basic vocabularies
  2. Haudricourt’s theory of tonal development
  3. Correspondences in basic vocabularies revisited
  4. Similarity in cross-lingusistic-family vocabularies proves no genetic relation
    1. Basic word lists at crossroads
    2. Comparative Mon-Khmer and Vietnamese basic words

IV) PARALLELS WITH THE SINO-TIBETAN LANGUAGES

  1. Sino-Tibetan etyma
  2. Issues in cognates of numerals
  3. The unfinished work
  4. Vietnamese and Chinese cognates in basic vocabulary stratum
    1. Chinese basic words
    2. Sino-Vietnamse words
    3. Sinitic-Vietnamese words

V) HOW SOUND CHANGES HAVE COME ABOUT

  1. In search of sound change patterns
  2. An analogy of Vietnamese etymology
    1. An corollary approach
    2. Words of unknown origin
    3. Questionable words of Chinese origin

VI) CASE STUDY WORKSHEET

VII) A sypnopsis of phonological sound changes from Chinese toVietnamese

VIII) CONCLUSION

BIBLIOGRAPHY AND REFERENCES

WEBSITES

APPENDICES

» Xinmời đọctiếp »

Muốn đónggóp ýkiến? Xin bấm vàođây!»

 


Ứng xử ngôn ngữ của người Việt đối với các yếu tố gốc Hán
Tácgiả: dchph gởiđăng vàongày Jun.14.2010
Tácgiả: GS Bùi Khánh Thế

1. Dẫn nhập

1.1. Quá trình hình thành và phát triển tiếng Việt, xét theo quan điểm giao lưu (interchange) và tương tác (interaction), là quá trình tiếp xúc ngôn ngữ (TXNN). Ở thời kì hình thành đó là sự giao lưu và tương tác giữa các thứ tiếng thị tộc, bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc để hợp thành hạt nhân của tiếng Việt. Bắt đầu thời kì phát triển, cùng với các bước lưỡng phân(1), là những giai đoạn tiếp xúc của tiếng Việt với các ngôn ngữ ngoại lai - được hiểu như các thứ tiếng ngoài gia đình ngôn ngữ Nam Á (AA) và Nam Thái (AT) (P.Benedict, 1996). Ở thời kì phát triển, sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt–Hán hay Việt–Trung (từ đây gọi chung Việt–Hán) là dài lâu nhất và hình thái tiếp xúc cũng có nhiều kiểu loại nhất. (Xem thêm ở phần 2)

1.2. Trong bài viết này có mấy từ (ngữ) khoá sau đây được sử dụng: tiếp xúc ngôn ngữ, ứng xử ngôn ngữ, yếu tố gốc Hán. Thuộc số đó có từ (ngữ) đã quen thuộc, nhưng khi xuất hiện trong bài viết này một đôi trường hợp mang một sắc thái hơi khác.

Tiếp xúc ngôn ngữ là “sự tiếp giao nhau giữa các ngôn ngữ do những hoàn cảnh cận kề nhau về mặt địa lí, tương liên về mặt lịch sử xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau” (O.S. Akhmanova, 1966). TXNN còn được hiểu là “sự tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ tạo nên ảnh hưởng đối với cấu trúc và vốn từ của một hay nhiều ngôn ngữ. Những điều kiện xã hội của sự TXNN được quy định bởi nhu cầu cần thiết phải giao tiếp lẫn nhau giữa những thành viên thuộc các nhóm dân tộc và ngôn ngữ do những nhu cầu về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội v.v. thúc đẩy” (V.N.Jarceva, 1990). Với tình hình TXNN ở Việt Nam, cũng như với một số nước từng có sự xâm lược và chiếm đóng của một thế lực ngoại quốc, ta còn có thể thêm vào đoạn dẫn trên: nhu cầu giao tiếp giữa cư dân bản địa với những người thuộc bộ máy cai trị và đội quân xâm lược hoặc chiếm đóng ngoại quốc. Trong hình thái TXNN này, sự ứng xử ngôn ngữ của cư dân bản địa là vấn đề hết sức tế nhị. Trong nhiều trường hợp nó làm nổi rõ bản sắc dân tộc của cả một nền văn hoá.

Ứng xử ngôn ngữ (Language Treatment) có nội dung khái niệm thuộc lĩnh vực xã hội ngôn ngữ học. Cách diễn đạt này được xem là tương đương với Kế hoạch hoá ngôn ngữ (Language Plan/Planning). Ứng xử ngôn ngữ là sản phẩm của những quyết định có ý thức về sự lựa chọn mã (code) trong hoạt động giao tiếp (John Gibbons, 1992 ). Ứng xử ngôn ngữ mang tính xã hội được thể hiện trong chính sách ngôn ngữ của nhà nước hoặc một tổ chức xã hội. Chẳng hạn chính sách ngôn ngữ hiện nay của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; chính sách ngôn ngữ của Đảng Cộng sản Đông Dương được thể hiện trong Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943. Ứng xử ngôn ngữ cũng có thể là sự lựa chọn của một người về ngôn ngữ mà mình dùng trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn từ. Sự ứng xử ngôn ngữ của mỗi người được quy định bởi nhiều nhân tố vừa khách quan vừa chủ quan, trong đó nhân tố chủ quan có tính quyết định. Ứng xử ngôn ngữ là một thành phần về ứng xử văn hoá. Do đó, truyền thống văn hoá, truyền thống ứng xử ngôn ngữ của cộng đồng, của dân tộc có ảnh hưởng quan trọng đến thái độ ứng xử ngôn ngữ của các thành viên trong cộng đồng.

Yếu tố gốc Hán không chỉ là những từ bắt nguồn từ tiếng Hán xưa nay được gọi là từ Hán - Việt. Trong bài này yếu tố gốc Hán được hiểu là tất cả những đặc điểm hoặc thành tố ngôn ngữ nào mà qua sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt–Hán tiếng Hán có thể có ảnh hưởng đến tiếng Việt ở mặt này hay mặt khác. Chẳng hạn các đặc điểm về ngữ âm, đặc điểm về cấu trúc ngữ pháp, các thành tố từ vựng ngữ nghĩa. Tuy trong bài viết này các thành tố từ vựng ngữ nghĩa là ngữ liệu được đề cập đến nhiều hơn, nhưng các phương diện khác của tiếng Hán cũng sẽ được nhắc đến khi cần.

1.3. Trong nhiều trường hợp bài viết sử dụng các dẫn liệu ngôn ngữ rút từ những công trình đã công bố và được thừa nhận rộng rãi của các tác giả khác cùng với những ngữ liệu mà người viết bài này dùng trong các lập luận của mình. Đề cập đến một vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội - ngôn ngữ học, khi cần thiết chúng tôi cũng đụng chạm đến những dẫn liệu thuộc các lĩnh vực ngoài ngôn ngữ để làm rõ thêm cho những lập luận liên quan với hiện tượng nội tại ngôn ngữ.

2. Tiếp xúc ngôn ngữ Việt–Hán

2.1. Các giai đoạn tiếp xúc và đặc điểm
Trong khoa học nói đến thời kì hoặc giai đoạn tức là bàn về sự phân kì có tính lịch đại (diachronic division of events into periods) về diễn tiến hay quá trình phát triển của một hiện tượng, một sự kiện nào đó. Mỗi sự phân kì nhằm vào một/vài mục đích nhất định và có tiêu chí định hướng cho sự phân kì. Sự phân kì hiện tượng TXNN dựa vào các hình thái tiếp xúc, điều kiện xã hội - lịch sử và hệ quả mà sự TXNN dẫn tới về mặt cấu trúc cũng như về chức năng xã hội của ngôn ngữ.

2.2. Theo các định hướng trên đây ta có thể hình dung sự phân chia quá trình tiếp xúc Việt–Hán thành sáu giai đoạn (hoặc thời kì):

Giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang chuyển sang Âu Lạc.
Giai đoạn Triệu Đà sáp nhập lãnh thổ Âu Lạc vào Nam Việt.
Giai đoạn Nam Việt bị Đế quốc Hán khuất phục và lãnh thổ cũng như cư dân Âu – Lạc (từ đây gọi một cách quy ước là Việt Nam)(2) trong cương vực Nam Việt cũng bị đế quốc Hán thôn tính. Trong chính sử Việt Nam giai đoạn này được gọi là Thời kì Bắc thuộc.
Giai đoạn nền độc lập (trong lịch sử có khi gọi là nền tự chủ) Việt Nam được khôi phục và xây dựng nhà nước Việt Nam theo chế độ vương quyền.
Giai đoạn Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược và thiết lập chế độ thuộc địa Pháp trên đất Việt Nam.
Giai đoạn Việt Nam giành quyền độc lập từ tay thực dân Pháp cho đến nay.
2.2.1. Có thể xem giai đoạn hình thành nhà nước Văn Lang (VL) và từ VL chuyển sang nhà nước Âu - Lạc (ÂL) là khởi điểm quá trình TXNN trên miền đất Việt thời kì mở cõi, dựng nước này. Đây là thời kì của các huyền thoại và giả thiết, giống như ở bất kì dân tộc và đất nước nào trên thế giới. Vì vậy nơi đây tồn tại nhiều truyền thuyết, huyền thoại và trên cơ sở đó mà các nhà nghiên cứu đã có những giả thiết khác nhau về dân tộc Việt Nam hiện nay và về quá trình hình thành vùng khai nguyên của Việt Nam hiện đại. Tiếp cận từ lí thuyết TXNN ta có thể hình dung trước hết đó là quá trình tiếp xúc giữa các ngôn ngữ bản địa mà kết quả là sự hình thành của tiếng Việt thời cổ(3). Tiếp theo đó là sự tiếp xúc với các thứ tiếng đến từ ngoài vùng đất khai nguyên.

Về mặt này giả thiết mà K.W.Taylor đưa ra, theo tôi, là đáng chú ý hơn cả. Trong sách Sự ra đời của Việt Nam, ngay trang đầu chương I, tác giả đã dựa vào truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân trong Lĩnh Nam Chích Quái (LNCQ) và Đại Việt sử kí toàn thư (TT), để giải thích cuộc hôn phối giữa hai nhân vật huyền thoại này. K.W. Taylor hình dung rằng Lạc Long Quân là một người dòng dõi đế vương vốn ở phương bắc, Trung Hoa (A Monarch from the North, China...) từ biển xâm nhập vào lục địa và khi nhận thấy nơi đây không có vua bèn xưng vương để cai quản. Nhưng cư dân địa phương không chấp nhận và nhân vật ngoại bang này buộc phải ra đi(4). Qua mối liên kết tượng trưng đó ta có thể hiểu: đây là sự tiếp xúc Việt–Hán đầu tiên trong lịch sử. Có điều là giai đoạn tiếp xúc này ắt là không lâu bền và chưa tạo nên tác dụng gì sâu sắc về mặt ngôn ngữ, nếu có.

Cách hình dung như K.W.Taylor, theo tôi, rõ ràng là có sức hấp dẫn, và cách hiểu dựa vào sự hình dung ấy là hợp lô gích. Tuy nhiên, tất cả những điều đó đều thuộc phạm trù huyền thoại và giả thuyết, gắn với giai đoạn dã sử, phải chờ đợi những cứ liệu hiện thực chứng minh. Dẫn sao giả thuyết này cũng gợi cho ta một hướng suy nghĩ lí thú.

2.2.2. Trong lịch sử Việt Nam giai đoạn Triệu Đà chinh phục và sáp nhập Âu Lạc vào phạm vi quốc gia Nam Việt rồi chia đất đai Âu Lạc ra làm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân được xác định là từ 179 đến 111 TCN. Vốn là con nhà tướng gốc Hán, cuối đời nhà Tần, Triệu Đà lên thay Nhâm Ngao cầm quyền, rồi khi nhà Tần bị diệt, tự xưng làm Nam Việt Vương. Việc Triệu Đà có thể tập hợp để làm chỗ dựa cho quyền lực của mình những người Hán từ phía bắc di cư vào cương thổ này (K.W.Taylor, tr.23-24; Phan Huy Lê, 1983, tr.234) chứng tỏ số lượng cư dân gốc Hán ở đây đã có một số lượng đáng kể. Và với tư cách những thành phần cư dân trong cùng phạm vi quốc gia Nam Việt, dĩ nhiên người dân Âu Lạc có quan hệ giao tiếp với toàn bộ cư dân của quốc gia này, trong đó gồm cả bộ phận người Hán. Sự giao tiếp này hẳn là có giới hạn. Lịch sử Việt Nam ghi nhận. Sứ giả nhà Triệu tiến hành lập sổ cư dân Giao Chỉ, Cửu Chân... "Giúp việc sứ giả, có thể có một số quan chức, cả Hán lẫn Việt” (sđd tr.234). Từ sự kiện đó có thể suy ra, đây là lần đầu tiên sử sách ghi lại có sự TXNN Việt–Hán. Đặc điểm của sự TXNN Việt–Hán trong giai đoạn này là nó được gộp trong bối cảnh tiếp xúc chung với các ngôn ngữ trong “quốc gia li khai” Nam Việt, ở đó bao gồm các ngôn ngữ của các dân tộc thuộc Bách Việt. Tiếng Hán lúc này một mặt là ngôn ngữ của giới cầm quyền và mặt khác là tiếng nói của một nhóm dân di cư từ phương bắc tới. Sự cai trị của nhà Triệu chưa kịp đụng chạm nhiều đến cơ cấu xã hội Âu Lạc trước đó. Do vậy ảnh hưởng ngôn ngữ qua sự tiếp xúc có tính đa hướng hơn là song phương Việt–Hán và chưa sâu sắc mấy.

2.2.3. Giai đoạn từ khi Nam Việt bị đế quốc Hán khuất phục trở đi trong sự phân kì của các tác giả khác nhau có cách gọi không giống nhau đối với phần lãnh thổ và cư dân trước đây thuộc Âu - Lạc. Với mục đích nghiên cứu của mình, tôi tán thành cũng như dùng theo cách phân kì của John DeFrancis và gọi chung là giai đoạn Bắc thuộc.

Đặc điểm của giai đoạn TXNN Việt–Hán này về mặt văn tự và tiếng nói đã được John DeFrancis và Nguyễn Tài Cẩn chỉ rõ (Mặc dù Nguyễn Tài Cẩn chỉ giới hạn “vào khoảng các thế kỉ 8,9”, TLTK đã dẫn, tr.8. H Maspéro chỉ ghi chung là trước thế kỉ 10). Một đặc điểm khác về chính trị – xã hội nên được lưu ý là giai đoạn này không phải diễn ra xuyên suốt, mà bị cách quãng bởi hai cuộc khởi nghĩa, đánh đuổi quân xâm lược giành lại quyền độc lập.

1. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Hai Bà Trưng lên ngôi các năm 40-43 Công nguyên.

2. Cuộc khởi nghĩa Lí Bí và sự thành lập nhà nước Vạn Xuân (542-602) Giai đoạn này chính sách Hán hoá của phương bắc ngày càng được đẩy mạnh và được các quan thái thú thực hiện chính sách đó triệt để tại miền đất họ chiếm đóng. Số lượng người Hán ở đây không chỉ có các quan chức trong bộ máy cai trị, đội quân chiếm đóng, mà cả gia đình con em của họ. Ngoài ra còn có lớp người Hán theo chính sách di dân cũng lần lượt kéo đến định cư nơi đây. Họ bao gồm những người lao động thường, người có tay nghề thuộc các nghề nghiệp khác nhau. Dù hình thái cư trú trên miền đất cùng chung sống này là thế nào (biệt lập của người Hán, kề cận với các đơn vị hành chánh cư dân Việt, hay có mức độ sống xen kẽ nhất định) thì cũng đều phải có sự giao tiếp Hán – Việt. Chính do đó mà sự TXNN Hán – Việt trở nên ngày càng sâu sắc hơn. Hệ quả của sự TXNN này là trong sinh hoạt ngôn ngữ và trong đời sống xã hội hình thành tình thế các cộng đồng Hán di cư đến kết giao với các cộng đồng cư dân bản địa, tạo nên hình thái song ngữ song văn hoá Việt–Hán.

2.2.4. Các giai đoạn tiếp theo của quá trình tiếp xúc Việt–Hán, tuy cách gọi của John DeFrancis có ít nhiều không giống với những sự phân kì của H.Maspéro, Nguyễn Tài Cẩn, D.J.Whitfield, nhưng ở ông các nhận xét về trạng huống ngôn ngữ và văn tự hầu như không có gì khác. Trạng huống đó vào thời kì Bắc thuộc (111 TCN đến 939 CN) là trong xã hội Việt Nam có hai ngôn ngữ Việt và Hán, và một văn tự là chữ Hán hoạt động trên mọi lĩnh vực giao tiếp. Kế đến là:

1/ Giai đoạn độc lập, xây dựng chế độ vương quyền (939-1651) Hai ngôn ngữ: Việt và Hán

Hai hệ thống văn tự: chữ Hán và chữ Nôm Chữ Hán được tiếp tục sử dụng với hình thức Hán – Việt. Xây dựng chữ Nôm theo loại hình chữ ghi ý (ideographic).

2/ Giai đoạn độc lập dưới chế độ vương quyền và có một bộ phận cư dân theo công giáo (1651-1861)

Hai ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Hán

Ba hệ thống văn tự: chữ Hán – Việt, chữ Nôm và chữ La tinh hoá, tức là dùng hệ chữ viết La tinh ghi tiếng Việt.

3/ Giai đoạn trở thành thuộc địa Pháp (1861-1945)

Ba ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Pháp

Bốn hệ thống văn tự: chữ Hán–Việt, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp.

4/ Giai đoạn độc lập dân tộc, từ 1945 đến nay

Một ngôn ngữ: tiếng Việt

Một văn tự: chữ Quốc ngữ.

(John DeFrancis, xem phần Mục lục)

Điều đáng nhấn mạnh là, tuy mức độ có khác nhau, nhưng sự TXNN Việt–Hán vẫn tiếp tục ở tất cả các giai đoạn đã nêu. Trên cơ sở đó mà chúng ta có thể thảo luận về thái độ ứng xử ngôn ngữ của các thế hệ người Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử TXNN.

3. Thái độ ứng xử ngôn ngữ của người Việt
3.1. Không giống như một số quốc gia hoặc dân tộc khác, thái độ ứng xử ngôn ngữ của các thế hệ người Việt không bị ảnh hưởng của chính sách do bộ máy cai trị của thế lực chiếm đóng ngoại bang hoặc tâm lí dân tộc cực đoan. Ngược lại, theo ý chúng tôi, thái độ ứng xử đó được chi phối bởi tiềm thức về nhu cầu giao tiếp xã hội. Tiềm thức này ngày càng tăng do thực tiễn giao tiếp xã hội cho thấy giá trị đích thực của các yếu tố gốc Hán, nói chung là tiếng Hán, chứ không phải do sự áp đặt, ép buộc từ một chính sách của lực lượng chiếm đóng.

3.2. Ứng xử ngôn ngữ đầu tiên của người Việt được quy định, có thể nói, một cách khách quan bởi nhu cầu giao tiếp với lớp người Hán di cư vào đất Việt. Trong Sự ra đời của Việt Nam, K.W. Taylor tỏ ra khách quan khi có nhận xét đại ý: Không phải tất cả người Hán di cư đến miền đất Âu Lạc trước đây đều thuộc tầng lớp quan quyền. Nhiều di dân là lính tráng (ở lại sau khi mãn hạn lính), những người lao động bình thường, những người thợ có tay nghề. Tầng lớp di dân ở vị trí xã hội thấp này có xu hướng kết nhập với giới xã hội người Hán còn ở lại làm ăn sinh sống sau cuộc hành quân Mã Viện. Nhiều người Hán di cư có xu hướng kết hợp giá trị Hán chính thống của họ với các đặc điểm xã hội tại chỗ. Điều này được thể hiện trên thực tế bằng các cuộc hôn nhân hỗn hợp và các hoạt động của người Hán di cư với tư cách đại diện cho cộng đồng từng khu vực trong các cuộc khởi nghĩa địa phương nổ ra vào thế kỉ thứ hai.

Hoàn toàn có lí khi cho rằng người Hán di cư dần dần trở thành các thành viên thuộc xã hội tại chỗ. Họ gầy dựng cuộc sống của riêng mình theo mô thức văn hoá Hán. Họ mang đến Việt Nam vốn từ ngữ và kĩ thuật Hán, nhưng họ phát triển tất cả theo quan điểm riêng, dựa rất nhiều vào di sản thuộc miền đất họ đến sinh sống. Tiếng Việt tiếp tục tồn tại, và lẽ đương nhiên là sau một vài thế hệ, con cháu người Hán di cư nói tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong giao tiếp. Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, có thể nói, hầu như tách biệt hoàn toàn với văn minh Hán, và xã hội Hán–Việt tồn tại như một chi thể của thế giới văn hoá tự trị. Người Hán di cư trải qua quá trình “Việt Nam hoá” một cách có hiệu quả hơn (more effectively) là người Việt Nam bị Hán hoá (John DeFrancis, p.53).

Về phần mình, ngoài sự giao tiếp và quy hợp ở các tầng lớp dưới của xã hội, một số nhân vật ở tầng lớp trên do yêu cầu của hoàn cảnh hoặc chức trách, cũng có thể do chủ động, tiếp xúc ngày càng sâu bền hơn với ngôn ngữ, văn tự và nói chung là văn hoá Hán. Đó là khi các Thái thú Hán, bắt đầu từ Sĩ Nhiếp, cho mở trường dạy học. Đầu tiên người học ở các trường này chủ yếu là con em quan chức Hán, kế đó trường cũng dần dần thu nhận thêm viên chức Việt; và cuối cùng con em các gia đình Việt khá giả cũng được đến học. Từ cơ hội ấy mà dần dần hình thành tầng lớp trí thức Việt xuất thân từ Hán học, trong số này đã có những nhân tài xuất hiện. Và “Như thế nhân tài nước Việt cũng được tuyển dụng như người Hán, mở đầu là Lí Cầm, Lí Tiến” (Dẫn theo bản dịch tiếng Việt: Đại Việt sử kí toàn thư, Hà Nội, 1983, tr.182) (5).

3.3. Sau thời Bắc thuộc, sang giai đoạn tự chủ xây dựng chế độ vương quyền của mình, các triều đại phong kiến Việt Nam dùng tiếng Hán–Việt, chữ Hán như ngôn ngữ và văn tự văn hoá đương nhiên của Việt Nam. Dấu chỉ của thực tế đó là những văn kiện chính thức hoặc huyền thoại, cắm mốc cho các sự kiện lịch sử, đều bằng tiếng Hán–Việt và ghi lại bằng chữ Hán: Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ, bài thơ thần Nam quốc sơn hà vang vọng trên bờ sông Như Nguyệt, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, và Bình Ngô đại cáo và Quân trung từ mệnh tập dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi thời Lê. Trong lĩnh vực phục hưng nền văn hoá dân tộc tiếng Hán–Việt và chữ Hán là công cụ để ông cha ta thời Lí – Trần xây dựng cả một gia tài văn học chữ Hán đồ sộ. Nền giáo dục cổ điển Việt Nam bắt đầu từ triều Lí (1076) cũng được xây dựng theo mô hình Nho học, ngôn ngữ dùng trong giáo dục cũng là tiếng Hán–Việt và chữ Hán. Các học quan, thày dạy đều xuất thân từ Hán học. Nền giáo dục này góp phần chủ yếu đào tạo nên các thế hệ trí thức hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống một quốc gia độc lập thời phong kiến Việt Nam tồn tại mãi đến triều Nguyễn.

Nếu khảo sát hệ thống từ ngữ dùng trong quá trình xây dựng chế độ phong kiến Việt Nam – từ tên gọi các cơ chế tổ chức, hệ thống quan chức, hệ thống luật pháp v.v. – ta có thể thấy số từ ngữ Hán–Việt chiếm phần lớn. Đó cũng là tình hình trong lĩnh vực khoa học quân sự, lĩnh vực kinh tế và nhiều ngành khoa học xã hội khác. Nói tóm lại trong giai đoạn này tiếng Hán và chữ Hán là ngôn ngữ và văn tự của nền hành chánh và của giới trí thức Việt Nam giống như tiếng Hi lạp và La tinh đối với xã hội Châu Âu thời kì tiền hiện đại. Trong quá trình đó người Việt Nam vừa sử dụng vừa chọn lọc từ vốn từ ngữ vay mượn ấy để làm phong phú cho ngôn ngữ và văn hoá của mình.

3.4. Một trong những biểu hiện thành công của quá trình tiếp biến văn hoá và TXNN Việt–Hán là sự xây dựng chữ Nôm Việt Nam (khoảng thế kỉ 13). Từ thành công đó một nền văn học Hán–Nôm ra đời tiếp tục giai đoạn văn học cổ điển sáng tác chỉ bằng tiếng Hán–Việt và chữ Hán. Các nhà văn hoá Việt Nam xuất thân từ Hán học là tác gia lớn, vừa có tác phẩm bằng tiếng Hán–Việt, chữ Hán, vừa sáng tạo những kiệt tác bằng tiếng Việt và chữ Nôm như Nguyễn Trãi, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu... Họ cùng với đông đảo tác giả khuyết danh của các truyện thơ Nôm làm phong phú cho kho tàng văn chương chữ Nôm, góp phần chung vào dòng văn học Hán–Nôm xuất hiện từ thế kỉ 15 trở đi. Hiện tượng văn hoá ấy là một bước phát triển mới của thái độ ứng xử ngôn ngữ đúng đắn ở người Việt Nam.

3.5. Có chữ Nôm, rồi chữ Quốc ngữ được chế tác và được điển chế hoá dần bằng các từ điển, sách ngữ pháp(6), số người biết chữ Quốc ngữ ngày càng tăng, đầu tiên là trong giáo dân, trong nhà thờ công giáo. Tiếp đến là các viên chức trong bộ máy của chính quyền thuộc địa. Từ đầu thế kỉ 20 chính quyền thuộc địa có quyết định bãi bỏ nền giáo dục cựu học. Hệ thống giáo dục tân học, tức theo mô hình hiện đại Tây phương được thiết lập từng bước trên toàn cõi Việt Nam. Giới trí thức tân học Việt Nam lần lượt tăng lên về số lượng và chất lượng và dần dần chiếm ưu thế trong xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà đã có lời than:

Nào có ra gì cái chữ Nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co...


Nhưng nhìn vào tầng sâu của văn hoá xã hội Việt Nam thì không phải như vậy. Những trí thức cựu học như Nguyễn Lộ Trạch, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... vẫn là những đại thụ về mặt tinh thần trong xã hội. Chữ Hán, tiếng Hán vẫn tiếp tục được các vị ấy sử dụng để trước tác nhằm giáo dục tinh thần yêu nước của đồng bào (Hải ngoại huyết thư), bàn thảo về những điều làm cho dân giàu, nước mạnh (Thiên hạ đại thế luận), bảo vệ nền văn hoá dân tộc.

Trong quá trình tiếp nhận nền giáo dục theo kiểu mới để xây dựng nền khoa học kĩ thuật cho mình các trí thức tân học, cũng không phải vì thế mà bỏ quên vốn quý có nguồn gốc Hán. Tiêu biểu cho thái độ ứng xử ngôn ngữ này là cố GS. Hoàng Xuân Hãn với đề nghị của ông nên “lấy gốc chữ Nho” làm một trong ba “phương sách đặt danh từ khoa học”. Phương sách ấy hiện nay vẫn còn nguyên giá trị và trở thành một trong những quy tắc xây dựng thuật ngữ khoa học kĩ thuật đang phát triển rất nhanh chóng ở nước ta và khoa học kĩ thuật Việt Nam ngày càng tiếp cận nhiều với khoa học kĩ thuật qua các ngôn ngữ Ấn - Âu.

3.6. Về thái độ ứng xử ngôn ngữ của người Việt đối với các yếu tố gốc Hán, nhân vật văn hoá tiêu biểu nhất là chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta. Trên cơ sở của truyền thống văn hoá Hán học của gia đình, Người bước vào lịch sử hấp thụ thêm nguồn học vấn phương Tây, tích luỹ sự hiểu biết từ tinh hoa của nhiều dân tộc, nhiều đất nước trên bước đường hoạt động cách mạng. Dầu vậy, trong quá trình tiếp thu những bài học cách mạng từ Người, những lời giáo huấn của Người, và nhất là đọc các tác phẩm trong di sản của Người, chúng ta luôn luôn cảm nhận được qua vốn văn hoá đa dạng đó, tinh hoa văn hoá, tinh hoa ngôn ngữ Hán được Người tinh lọc, tiếp biến thành các giá trị Việt Nam. Trong tù Người viết Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù). Người dùng danh ngôn, tục ngữ Hán khi trao đổi ý kiến với các bậc đại nho Việt Nam. Trong kháng chiến Người cũng đã có những bài thơ tuyệt tác viết bằng chữ Hán. Thái độ ứng xử ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các yếu tố gốc Hán là lĩnh vực có ý nghĩa khoa học lớn, vượt ngoài khuôn khổ bài viết nhỏ này và phải là một đề tài nghiên cứu riêng.

________________

(1) Trong bài Thử phân kì lịch sử thế kỉ 12 của tiếng Việt; tác giả Nguyễn Tài Cẩn viết: “Tiếng Việt có một lịch sử chỉ khoảng hơn 12 thế kỉ. Sự hình thành tiếng Việt là một kết quả của 2 bước lưỡng phân, một trước, một sau. Bước lưỡng phân đầu là bước chia ngôn ngữ mẹ Proto – Việt – Chứt thành hai nhánh: nhánh Việt – Mường ở phía bắc và nhánh Pọng – Chứt ở phía Nam... Ảnh hưởng của tiếng Hán không những mạnh ở Bắc hơn Nam mà ở đồng bằng sông Hồng cũng mạnh hơn ở miền núi. Do đó lại nảy sinh một bước lưỡng phân thứ hai bắt đầu từ khoảng thế kỉ 18, tạo ra sự đối lập giữa hai ngôn ngữ mới, một bên là Proto Việt, một bên là Proto Mường" (N.T.Cẩn, 1998, tr.7)

(2) Trong lịch sử, tuỳ từng thời kì lịch sử tên gọi chỉ nước Việt Nam hiện nay có sự thay đổi Giao Châu, Giao Chỉ, Đại Cồ Việt, Đại Việt... Tên gọi Việt Nam về sau mới xuất hiện. Tuy nhiên, để tiện cho việc trình bày, trong bài này chúng ta có thể lấy tên gọi Việt Nam mà hiện nay đang dùng để đại diện chung cho tất cả các tên gọi có trước, nếu không có nhu cầu phân biệt chính xác.

Thảo luận về đề tài này, chúng tôi sử dụng các công trình của một số tác giả. Ở những công trình đó, căn cứ vào những chỗ dựa ít nhiều khác nhau, các tác giả đã đề nghị cách phân kì tuỳ theo sự tiếp cận của mình.

I. Dựa vào sự hình thành tiếng Hán–Việt, cuốn An Nam dịch ngữ và cuốn từ điển Alexandre de Rhode (1651), H.Maspéro chia thành:

A) Proto Việt trước thế kỉ 10

B) Việt tiền cổ: thế kỉ 10 (hình thành tiếng Hán - Việt)

C) Việt cổ: thế kỉ 15 (An Nam dịch ngữ)

D) Việt trung đại: thế kỉ 17 (từ điển A.de Rhôde 1651)

E) Việt hiện đại: thế kỉ 19

(Dẫn lại theo Nguyễn Tài Cẩn, 1998, tr.8)

II. Dựa vào thế tương tác giữa các ngôn ngữ, văn tự có sự tiếp xúc với nhau trong mỗi giai đoạn N.T.Cẩn (1998) có bảng phân kì:

A) Giai đoạn Proto Việt Có 2 ngôn ngữ: tiếng Hán (khẩu ngữ của lãnh đạo) và tiếng Việt; 1 văn tự: chữ Hán. Vào khoảng các thế kỉ 8, 9.
B) Giai đoạn tiếng Việt Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt (khẩu ngữ của lãnh đạo) và văn ngôn Hán; 1 tiền cổ văn tự: chữ Hán. Vào khoảng các thế kỉ 10,11,12
C) Giai đoạn tiếng Việt cổ Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán; 2 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm Vào khoảng các thế kỉ 13, 14, 15, 16
D) Giai đoạn tiếng Việt trung đại Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán; 3 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Vào khoảng các thế kỉ 17, 18 và nửa đầu thế kỉ 19
E) Giai đoạn tiếng Việt cận đại Có 2 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Việt và văn ngôn Hán; 4 văn tự: Pháp, Hán, Nôm, Quốc ngữ. Vào thời gian Pháp thuộc
G) Giai đoạn tiếng Việt hiện nay Có 1 ngôn ngữ: tiếng Việt; 1 văn tự: chữ Quốc ngữ. Từ 1945 trở đi

III. John DeFrancis (1977) trong Colonialism and Language Policy dựa vào sự thể hiện chính sách ngôn ngữ từ 111 TCN trở đi chia sự phát triển tiếng Việt thành 4 giai đoạn với các đặc điểm về trạng huống ngôn ngữ và văn tự khác.

IV. Keith W.Taylor (1983) trong sách The Birth of Vietnam, tuy không trực tiếp đề cập đến sự phân kì về quan hệ tiếp xúc Hán - Việt nhưng những cứ liệu của tác giả này về thời kì hình thành Việt Nam trước khi bị đế quốc Hán xâm chiếm và đặt ách thống trị cũng có nhiều cứ liệu và ý tưởng soi sáng cho sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt–Hán.

(3). Cách dùng “tiếng Việt thời cổ” ở đây được hiểu như tiếng nói của “người Việt Cổ” (L.sử I) về hạt nhân đầu tiên của tiếng Việt hiện đại mà ngành ngôn ngữ học lịch sử Việt Nam chưa có những công trình nghiên cứu vượt khỏi các giả thuyết.

(4). Theo Taylor, qua huyền thoại Âu Cơ–Lạc Long Quân ta có thể biết về quan niệm trong dân gian xưa về quan niệm huyết thống giữa các vua Hùng và Lạc Long Quân (LLQ). LLQ từ phía biển thâm nhập vào đồng bằng sông Hồng. Đến đây LLQ chế phục “các yêu quái” trong miền rồi khai hoá họ, dạy họ trồng trọt, bắt đầu biết ăn mặc. Sau đó trở về biển cả và dặn lại rằng khi nào gặp nguy khó thì hãy lên tiếng và LLQ sẽ trở lại… Rất có thể Lạc Long Quân là hoàng tử xứ biển cả và Âu Cơ là một Mị Nương của vùng núi đồi. Khi Lạc Long Quân ra đi, Mị Nương ở lại và sinh hạ các vua Hùng. Người Việt Nam đời nối đời xem Lạc Long Quân và Âu Cơ là tổ tiên của mình.

Taylor viết tiếp: Huyền thoại bao quanh câu chuyện Lạc Long Quân và Hùng Vương ngụ ý về một nền văn hoá từ đất liền hướng ra phía biển. LLQ là nhân vật văn hoá mang nền văn minh đến từ biển. Nhân vật này chạm trán với quyền lực từ đất liền, liên kết với đối thủ ấy bằng một cuộc hôn nhân và cuối cùng kẻ vốn là đối thủ trở thành mẹ của người thừa kế mình. Chủ đề về nhân vật văn hoá bản địa có cách ứng xử để vô hiệu hoá sự đe doạ từ phương bắc bằng cách dung hợp cội nguồn chính thống của nền văn minh ấy cũng phù hợp với mối quan hệ lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc (K.W.Taylor, 1977, tr.1).

(5) Lí Cầm là người Giao Châu, đậu tiến sĩ, làm quan đến Tư lệ hiệu uý. Lí Tiến đậu tiến sĩ, là người Giao Chỉ đầu tiên giữ chức thứ sử năm 187 CN, dưới triều Hán.

(6) Cuốn Từ điển Việt–Bồ–La, có phần giới thiệu về cơ cấu tiếng Việt ở đầu sách do A.de Rhode biên soạn và ấn hành năm 1651 là công trình đầu tiên. Từ đó dần dần loại sách này ngày càng xuất hiện nhiều hơn để cung ứng cho nhu cầu học chữ Quốc ngữ, học tiếng Việt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

O.S. Akhmanova (1969). Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (bằng tiếng Nga). Nxb Từ điển Bách khoa Xô viết Moskva.

Paul Benedict (1996). Interphyla Flow in Southeast Asia, In Proceeding of the Forth. International Symposium on Languages and Linguistics. 8 - 10, 1996. Vol. V, pp.1579-1590.

Bùi Khánh Thế (2000). Tiếp xúc ngôn ngữ Việt - Hán và hệ quả tích cực của quá trình đó đối với sự phát triển tiếng Việt. Kỉ yếu Hội thảo Việt–Trung.

John DeFrancis (1977). Colonialism and Language Policy in Vietnam. Monton Publishers - The Hague, Paris. New York.

John Gibbons (1992). Sociology of Language. In International Encyclopedia of Linguistics, Vol.4, pp.22-24, William Bright (Editor in Chief).

Hứa Tuyên (1994). Sơ lược về việc sử dụng chữ Hán ở Việt Nam và Đông Á.
V.N.Jarceva (chủ biên, 1990). Từ điển bách khoa về ngôn ngữ học (bằng tiếng Nga). Nxb Từ điển Bách khoa Xô Viết Moskva.

Nguyễn Đình Đầu (1997). Công lao của G.S Hoàng Xuân Hãn trong quá trình xây dựng và hoàn chỉnh nền quốc học nước ta bằng chữ quốc ngữ và tiếng Việt. Trong Kỉ yếu Hội nghị khoa học: Chữ quốc ngữ và sự phát triển chức năng xã hội của tiếng Việt, tháng 3/1997, tr.174-184.

Nguyễn Tài Cẩn (1998). Thử phân kì lịch sử 12 thế kỉ của tiếng Việt. Tạp chí Ngôn ngữ, số 6/1998, tr.7-12.

Tập san khoa học, A.Annals of HCM University, số 1/1994.

Keith Weller Taylor (1983). The Birth of Vietnam. University of California Press, Berkeley, Los Angeles - Oxford.

Danny J.Whitfield (1976). Historical and Cultural Dictionary of Vietnam. The Scarecrow Press, Inc. Metuchen, N.J.



--------------------------------------------------------------------------------

Theo Tập san khoa học Trường ĐHKHXH&NV (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), số 38 (2007), trang 3–10.


» Gópý

Chiếcnhẫn Bíẩn
Tácgiả: dchph gởiđăng vàongày Jun.6.2010
Bíẩn của chiếcnhẫn tốtnghiệp trunghọc 1972 tìmthấy tại Việtnam
Bài của William R. Levesque, Câybút của Báo Times

dchph chuyểnngữ từ bảndịch của Google



Khi hai kẻthù cũ Dan Cherry và Nguyễn Hồng Mỹ đoàntụ, Hồng Mỹ mang một chiếcnhẫn tốtnghiệp của một trường trunghọc ở Mỹ. Bâygiờ Cherry đang cốgắng tìm chủsởhữu nguyênthuỷ của chiếcnhẫn.

(Hình của John Fleck)

Dan Cherry trên một chuyếnbay rakhỏi Thànhphố Hồ Chí Minh với một ngườibạn Việt của ông , ông mới nhậnthấy chiếcnhẫn trên taytrái ngườibạn. Nó được đúc bằngvàng cài thêm một viênđá màuxanh.

Nó trônggiống như một chiếcnhẫn điểnhình thườngthấy của những lớphọc tốtnghiệp ở Mỹ.

Cherry tựhỏi, nó đã đến từ nơinào, nhưng ông không muốn hỏi. Ông và Nguyễn Hồng Mỹ vừa trởthành bạn - và đólà một tìnhbạn dễvỡ, ítnhất là nhưvậy.

Cherry là một thiếutướng Khôngquân Hoakỳ vềhưu đãtừng phụcvụ tại căncứ khôngquân MacDill ở Tampa. Trong cuộc khôngchiến kéodài bốn phút tại BắcViệt Nam vào năm 1972, ông đã bắnrơi máybay phảnlực chiếnđấu của Hồng Mỹ với một tênlửa "Diệtchimsẻ".

Trong năm 2008, ông đã tìmkiếm Hồng Mỹ với sựgiúpđỡ của một chươngtrình truyềnhình Việtnam. Hai kẻthù cũ đã gặpnhau và trởthành bạn nhanhchóng. Ngaysauđó, họ cùng đi trên một chuyếnbay thươngmại từ Thànhphố Hồ Chí Minh đến nhà Hồng Mỹ tại Hà Nội.

Nhưng bâygiờ chiếcnhẫn trêntay của Hồng Mỹ đã đặtra những câuhỏi làmcho Cherry khóchịu.

Đó cóphảilà huyhiệu của chiếntranh?

Một huyhiệu lấy từ một ngườiMỹ đã chết?

• • •

Sau một thờigian, Cherry khôngthể chịuđựng đượcc nữa. Để cóđược một cáinhìn gần hơn chiếcnhẫn, ông đã yêucầu Hồng Mỹ cho ông nhìnkỹ nó. Hồng Mỹ buộcphải giơ bàntay của mình lên.

Cherry, 71 tuổi, cóthể nhậnra số "1972" và tên của một trường trunghọc khắc trên chiếcnhẫn bằngvàng này. Ông ngóthấy nó mangtên "Macklin."

Hai người không nói cùng một ngônngữ. Vìvậy, khôngcógì ngạcnhiên khi Cherry khôngthể làmthếnào để hỏi Hồng Mỹ, 65 tuổi, là dođâu ông cóđược chiếcnhẫn đó. Cherry cảmthấy ông chưa đủthân với Hồng Mỹ để hỏi điềunầy.

"Tôi sợ là anhta nhạycảm đốivới chuyệnđó," Cherry nói.

Ông nhờ một ngườibạn đicùng với ông kínđáo nhìnkỹ chiếcnhẫn để xem anhbạn có nhậnthấy điềugì đó mà Cherry đã bỏsót. Tâmtrí của Cherry đã hìnhthành một ýtưởng .

• • •

Khi Cherry từ Việtnam vềlại Mỹ, ông còn nhiều chuyệnlhác để lo nhưng ông không quênđược chiếcnhẫn.

Cherry vẫncòn chưabiết gì về lịchsử của chiếcnhẫn khi Hồng Mỹ viếngthăm Hoakỳ theo lờimời của Cherry vào mùaxuân năm 2009.

Khi gặp Hồng Mỹ tại Sun' n Fun Fly-In ở Lakeland Cherry hơi lo khi đềcập đến đềtài của chiếcnhẫn. Ông đã nhờ một thôngdịchviên hỏi Hồng Mỹ: "Làm sao bạn cóđược chiếcnhẫn đó?

Chuyệnnầy dườngnhư khôngthành vấnđề gì với Hồng Mỹ. Hồng Mỹ chobiết là ông đã mua chiếcnhẫn nầy tại một tiệmvàng ở Việtnam. Cherry saunày đã biếtđược bạnmình đã mua chiếcnhẫn nầy đâu vàokhoảng những năm đầu thậpniên '80.

Hồng Mỹ chỉ đơngiản chobiết rấtthích đeo đồvàng. Chiếcnhẫn đã bắtmắt Hồng Mỹ và ông khôngbiết ngườichủ sởhữu banđầu của nó.

Đầu nămnay, Cherry đã quyếtđịnh muốn biết nhiềuhơn về lịchsử của chiếcnhẫn. Vìvậy, khi ngồi trước máytính ở nhàmình tại Bowling Green, Tiểubang Kentucky, và vô Google để tìmkiếm "Macklin" trênmạng.

Chẳngbaolâu ông thấyrằng ông nhớsai tên của trường. Đó là Trường Trunghọc Cônggiáo Mackin ở Washington, DC. Mackin là một trườngnam nộithành đóngcửa vào năm 1989 saukhi được sápnhập vào một trườnghọc lớnhơn.

Sauđó ôngta bắtđầu côngviệc tìmkiếm qua điệnthoại.

Những gì ông pháthiệnđược rất khíchlệ. Trường Mackin không lớn. Các lớphọc của năm 1972 chỉ có 93 họcsinh. Hơn 30 năm đã trôiqua, nhưng Cherry nghĩ những consố tìmđược cólợi cho mình. Ông chắcchắn là mình cóthể tìmthấy sởhữuchủ của chiếcnhẫn.

Ông đã liệnlạcđược với các giáochức cũ của trường Mackin nay đã được sáp nhậpvào Trường Archbishop Carroll, cũng ở Washington.

Cherry gọicho vị hiệutrưởng của trường. Sauđó, ông đã nóichuyện với chủtịch của hội cựuhọcsinh của Trường Carroll. Cherry thulượmđược một bảnsao của cuốn Niêngiám 1972 của trường Mackin. Ông lậtqua các trangsách và nhìnchăm những khuônmặt trẻ thờiđó và ông đã cốgắng tưởngtượng ra một người họcsinh nàođó cóthể đãlà sởhữuchủ của chiếcnhẫn.

• • •

Cherry dòla và nóichuyện với một sốít họcsinh tốtnghiệp Mackin. Nhưng khôngmay, ông chẳngthể xácđịnhđược sởhữuchủ của chiếcnhẫn.

Mộtsố họcsinh viên của trường thuộcdiện trẻem nghèo khôngthể có khảnăng mua chiếcnhẫn tốtnghiệp của lớp mình. Mặcdù vậy, họcsinh tốtnghiệp Trường Mackin vẫn cảmthấy một niềm tựhào mãnhliệt về ngôitrường của họ.

Họcsinh của trường baogiờ cũng nhấnmạnh về câu đứchuy của Trường Mackin là "Trungthực. Vẹntoàn. Danhdự. "

"Nếu bạn làm điềugìđó sai, bạn sẽ nghe ngườita nhắcnhở, 'Một ngườiđànông học ở Trường Mackin sẽ không làm điềuđó,'" ông Richard Bennett, tốtnghiệp năm 1972, đã nói. "Chúngtôi đều mang ýtưởng đó vào tuổi trưởngthành của mình."

Cherry viếngthăm Washington để gặp mộtsốít người tốtnghiệp từ Trường Mackin. Một người tênlà Eugene Johnson, người trởnên bị lôicuốn bởi sựbíẩn của chiếcnhẫn nhưlà Cherry.

"Làmsao chiếcnhẫn này đếnđược Việtnam?" Johnson thắcmắc.

Niềmtựhào về nhàtrường của mình quá mạnhmẽ, Johnson chobiết, để ông cảmthấy chắcchắn ngườita khôngthể đánhmất chiếcnhẫn này, lạicàng không bánđược. Chiếcnhẫn là vật lưuniệm quantrọng đốivới những họcsinh có khảnăng muađược thớiđó.

Là một cựuhọcsinh của Trường Mackin, Johnson chobiết, sẽ khôngthểnào đánhmất chiếcnhẫn lưuniệm của trườngmình.

• • •

Cherry lậpra một bảntên của các họcsinh tốtnghiệp Mackin năm 1972 và sosánh với danhsách của những người đã chết trong Chiếntranh Việtnam. Ông ngạcnhiên nhậnthấy rằng ông tìm khôngthấy có tên nào trùnghợp cả.

Ngày 3 thángba, Cherry đã viết một láthư cho Hồng Mỹ.

"Tôi muốn hỏi bạn một câuhỏi cánhân mà tôi đã suynghĩ đã một thờigian," Cherry màođầu. "Tôi nhớtới chiếcnhẫn vàng của Mỹ mà bạn cólần đeo, nó cóthể thuộcvề một ngườilínhMỹ đã chết trong chiếntranh.."

Cherry nóivới ngườibạn của mình rằng ông muốn tìm sởhữuchủ của chiếcnhẫn.

"Nếu tôi cóthể tìmđược sởhữuchủ banđầu, hoặc giađình của ngườisởhữu, bạn sẽ có sẵnsàng cholại chiếcnhẫn vì chúngtôi biết nó có nhiều ýnghĩa đốivới giađình của ngườilính Mỹ...? Nó sẽ là cửchỉ một tuyệtvời tinhthần hòagiải của nước bạn và sẽ siếtchặt tìnhhữunghị giữa hai nước chúngta. "

Cherry cho dịchra tiếngViệt, và sauđó ông kýtên vào đó: Anh Đào. Cherry cónghĩalà "anhđào" trong tiếngViệt.

Sauđó, trong một cúgọi điệnthoại, Hồng Mỹ đã không ngầnngại. Ông sẽsẵn sàng từbỏ chiếcnhẫn.

• • •

Hồng Mỹ đến viếngthăm Cherry tại Hoakỳ tuầntrước. Cherry đã hyvọng tìmgặp sởhữuchủ của chiếcnhẫn đó, nhưng ông đã không tìmđược.

Cherry đã gửiđi một danhsách của họcsinh tốtnghiệp Mackin 1972 đến Bộ Quốcphòng Mỹ hai tháng trướcđây. Ông muốn biết là đã có ngườinào trong danhsách đó đãtừng phụcvụ trong quânđội. Đólà hyvọng của ôngta, cho đólà cách tốtnhất trongviệc tìmkiếm ngườichủ của chiếcnhẫn, và cólẽ đólà cách cuốicùng của ông.

Cherry vẫnchưa nhậnđược hồiđáp.

Sựtáihợp của ông với Hồng Mỹ là một kếtthúc về những liênhệ quákhứ của ông đốivới chiếntranh Việtmam. Cherry chobiết ông chắcchắn đó cũng sẽ là một kếtthúc quantrọng đốivới sởhữuchủ của chiếcnhẫn.

"Việc trảlại chiếcnhẫn cóthể chophép aiđó quênđi cuộcchiếntranh, để đổiđời", ông nói. "Và nếu ngươisởhữu cũ đãchết, nó vẫncòn mang nhiều ýnghĩa cho giađình ngườiđó. Đólà một biểutượng của cuộcsống của ngườisởhữu của nó."

Và nếu Cherry khôngbaogiờ tìmgặp người mình đang tìm, ông hyvọng sẽ đưa chiếcnhẫn vào trưngbày tại Trường Trunghọc Arbiship Carroll ở Washington.

Giốngnhư câuchuyện táihợp với Hồng Mỹ, Cherry chorằng nó cóthể cungcấp cho họcsinh một mốiliênhệ đến quákhứ và chỉcho họ thấyrằng các sựkiện từ xaxưa đã ảnhhưởng thếnào đến cuộcsống của những côngdân bìnhthường giốngnhư họ.

Và điềuđó sẽ chothấy, ông tinrằng, đôikhi chiếcnhẫn khôngphải chỉlà một chiếcnhẫn.



Cóphải chiếcnhẫn ở Việtnam thuộcvề một ngườiMỹ đã chết? Câutrảlời đã cóthể làm chiarẽ hai ngườibạn -- hoặc cóthể sẽ siếtchặt hai quốcgia.

(Hình của John Fleck)


Email liênlạc William R. Levesque levesque@sptimes.com hoặc điệnthoại (813) 226-3432.

Chủnhật 6 thángsáu 2010.

Nguồn: http://www.tampabay.com/features/humaninterest/the-mystery-of-the-1972-high-school-class-ring-found-in-vietnam/1100032
» Gópý

Bức tường Berlin
Tácgiả: abcd gởiđăng vàongày Jun.6.2010
Huy Đức

Theo blog Osin

Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.

Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.

Huy Đức
» Gópý

Ðăngnhập nhanh
Tên thànhviên Mậtmã

Bàiviết / Ýkiến mới đăng
Chữ Việt mới dùng cho công nghệ thông tin
Tácgiả: NgNinh
Bệnh Dịch Cúm Gà... Móng Đỏ
Tácgiả:
Ứng xử ngôn ngữ của người Việt đối với các yếu tố gốc Hán
Tácgiả: dchph
Chiếcnhẫn Bíẩn
Tácgiả: dchph
Bức tường Berlin
Tácgiả: abcd
Mộtvài suynghĩ về nguồngốc dânViệt
Tácgiả: dchph
nên xài hết bảng chữ cái để viết nhanh.
Tácgiả: doctiengvietnhutiengkhome
viết như vậy thì đọc ra sao ?
Tácgiả: doctiengvietnhutiengkhome
Góp ý về bài viết "Cải Cách Tiếng Việt" của Tâm ÐoànViệt
Tácgiả: doctiengvietnhutiengkhome
Độtquỵ - Heart attack
Tácgiả: abcd
Tánthành Sửađổi Cáchviết ChữViệt
Tácgiả: vothiencancan
Tảnmạn 2009
Tácgiả: vothiencancan
TIẾNG VIỆT NÀO CHO THẾ KỶ TỚI?
Tácgiả: vothiencancan
Food-For-Thought of 2009
Tácgiả: Cuong Nguyen
Sim Số đẹp hợp Mệnh Kim
Tácgiả: thuonghieuvip

Ðềtài chưacó người trảlời
· Ứng xử ngôn ngữ của người Việt đối với các yếu tố gốc Hán
· Chiếcnhẫn Bíẩn
· Bức tường Berlin
· Mộtvài suynghĩ về nguồngốc dânViệt
· nên xài hết bảng chữ cái để viết nhanh.

Ðềtài thảoluận
Chưa đăng đềtài mới

NEWS UPDATE


Click for Moreover News!


©2002-10 vny2k.com's Ziendan.net